Đánh giá
hiện trạng và sự cấn thiết xây dựng chỉ dẫn địa lý sò huyết Cà Mau
1. Thực trạng nuôi và kinh doanh sản phẩm sò
huyết
a. Vị trí địa lý và khu vực địa lý
Cà
Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, thuộc khu vực Đồng bằng châu thổ sông Cửu
Long, gồm 2 phần lãnh thổ: phần đất liền và vùng biển chủ quyền.
-
Phần đất liền: Diện tích 5.294,87 km2, xếp thứ 2 và bằng 12,97% diện
tích khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bằng 1,58% diện tích cả nước. Trong đó,
diện tích đất nuôi thủy sản trên 266.735 ha, đất trồng lúa 129.204 ha, đất lâm
nghiệp 103.723 ha.
Nằm
ở 8034’ đến 9033’ vĩ độ Bắc và 104043’ đến 105025
kinh độ Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 370 km, cách thành phố Cần Thơ 180 km
về phía nam. Theo đường chim bay, từ bắc tới nam dài 100 km.
Phía
bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông và đông
nam giáp biển Đông và phía tây giáp Vịnh Thái Lan. Cà Mau nằm trên bán đảo, có
vị trí địa lý khá đặc biệt, với ba mặt tiếp giáp biển. Mũi Cà Mau là nơi duy
nhất trên đất liền có thể ngắm được mặt trời mọc lên từ mặt biển Đông vào buổi
sáng và lặn xuống mặt biển Tây vào buổi chiều. Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển
các nước Đông Nam Á nên rất thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế với các nước
trong khu vực.
-
Vùng biển: Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt
Nam do tỉnh Cà Mau quản lý có diện tích 71.000 km2. Trong đó, có đảo
Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Buông và Hòn Đá Bạc.
Hình
1. Vùng địa lý của tỉnh Cà Mau
Khu
vực địa lý: Vùng nuôi sò huyết phân bố nhiều và tập trung tại các huyện: Đầm
Dơi, Phú Tân, Cái Nước, Năm Căn và Ngọc Hiển.
b. Những điểm đặc trưng tự nhiên và thế mạnh của tỉnh Cà Mau
Cà Mau là tỉnh ven biển ở cực nam của Việt Nam, nằm
trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Cà Mau là một vùng đất trẻ, toàn bộ bề
mặt trầm tích của vùng này được hình thành trong thời kỳ biển tiến thuộc Kỷ
Holocen và mới được khai phá khoảng trên 300 năm.
Cà
Mau được kết nối với TP.Hồ Chí Minh và các địa phương trong khu vực bằng nhiều
hệ thống giao thông rất thuận lợi cho việc giao thương gồm: đường bộ, đường
hàng không, đường thủy và đường biển qua cảng Năm Căn. Về đường bộ, Cà Mau có
thêm tuyến đường Hồ Chí Minh về xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển đã được thông tuyến
đi vào khai thác. Từ đất liền ra biển có dạng diện mạo của bề mặt tích tụ biển
– đầm lầy. Từ Mũi đến sông Bảy Háp khoảng 34 km. Bãi bồi có bề mặt thoải kéo
dài ra biển, trong đó có khoảng 8.000 ha bãi bồi lộ ra khi thủy triều rút tới
mức thấp nhất.
Lượng
phù sa chiếm toàn bộ diện tích khu vực vùng ven biển và đất Mũi Cà Mau dày vài
mét đến vài chục mét và được hình thành từ 10.000 năm trở lại đây bao gồm trầm
tích Holocen giữa và Holocen trên. Các trầm tích này tạo nên các sét biển
Holocen, các giồng cát, đầm lầy ven biển, đồng thủy triều và các bãi triều.
Chế
độ thủy triều đóng vai trò quan trọng, quyết định dòng chảy của kênh rạch và sự
vận chuyển phù sa ở trong vùng. Quá trình bồi lắng phù sa tạo nên một lượng
lớn, các vật liệu được chuyển tải từ biển Đông sang Vịnh Thái Lan theo các Cửa
Lớn bồi lắng tại vùng cửa sông Ông Trang với lượng phù sa trung bình khoảng
70-80 mg/l và 30 mg/l trong mùa mưa.
Vùng
địa lý của tỉnh Cà Mau chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều biển Đông đẩy
triều vào sâu trong đất liền và chế độ nhật triều của biển Tây với sự góp phần
của 2 con sông lớn là sông Cái Lớn và sông Bảy Háp tạo nên sự bồi đắp phù sa
vùng đất Mũi. Quá trình hoạt động của các dòng chạy tạo ra các nguồn phiêu sinh
vật, thực vật phù du, động vật đáy dồi
dào và quá trình lắng đọng phù sa diễn ra nhanh chóng hơn. Đây là điểm lợi thế
cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho các loài thủy sản và trong đó có loài nhuyễn
thể sò huyết.
Tỉnh Cà Mau
là vùng có địa hình thấp và rất thấp, cao độ trung bình từ 0,5-1,5 m nên dễ
dàng bị nước mặn từ cả biển Đông và biển Tây xâm nhập qua 87 vị trí thông với
biển, chủ yếu là các hệ thống sông như sông Gành Hào, sông Cửa Lớn, sông Đầm
Dơi, sông Đầm Chim, … nối với biển Đông và các hệ thống sông Bảy Háp, sông Ông
Đốc, sông Trèm Trẹm, sông Cái Tàu, sông Bạch Ngưu, sông Cái Lớn và sông Đầm
Cùng để ra biển Tây. Theo những kết quả quan trắc môi trường của
tỉnh Cà Mau, đặc điểm của đất nền đáy bãi bồi: đất có phản ứng trung tính; độ
mặn từ 20 đến 30o/oo; hàm lượng Mg2+ trao đổi
khá cao: 14-15 mg/100g đất; ion nhôm Al3+ hoạt tính rất thấp; P2O5
tổng số trung bình thấp và K2O tổng số ở mức trung bình khá.
Với
vùng đất thấp, thường xuyên bị ngập nước, nhưng hiện nay đang có hiện tượng bồi
lở ở cả 2 phía biển Đông và Tây. Cà Mau có 5 nhóm đất chính gồm đất phèn, đất
than bùn, đất bãi bồi, đất mặn và đất kênh rạch. Rừng Cà Mau là loại hình sinh
thái đặc thù, rừng sinh thái ven biển ngập mặn được phân bố dọc ven biển với
chiều dài 254 km. Bên cạnh đó, Cà Mau còn có hệ sinh thái rừng tràm nằm sâu
trong lục địa ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình quy mô 35.000 ha.
Diện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau chiếm 77% rừng ngập mặn của vùng đồng bằng
sông Cửu Long. Do có vị trí thuận lợi, Cà Mau có nhiều thế mạnh để phát triển
kinh tế thủy sản, nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến xuất khẩu, dịch vụ, du
lịch, khai thác khí đốt, dầu khí và dịch vụ cảng biển.
Hình
2. Đặc điểm khu vực địa lý đặc trưng của tỉnh Cà Mau
c. Hiện trạng nuôi sò huyết của tỉnh Cà Mau
Năm 2020, diện tích nuôi thủy sản trên địa bàn
tỉnh Cà Mau là 299.444 ha, giảm 5.577 ha, giảm 1,83% so với năm 2019; trong đó:
diện tích nuôi thâm canh 8.416 ha, giảm 3.684 ha, giảm 30,45% so với năm 2019;
diện tích nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 291.028 ha, giảm 1.893 ha,
giảm 0,65% so với năm 2019. Diện tích nước ngọt 30.030 ha, giảm 5.122 ha, giảm
14,57% so với năm 2019; diện tích nước lợ 269.252 ha, giảm 617 ha, giảm 0,23%
so với năm 2019; diện tích nước mặn 162 ha (Theo nguồn Niên giám Thống kê
tỉnh Cà Mau, 2020).
Bảng 1. Diện tích mặt nước nuôi thủy sản phân theo
huyện/quận/thị xã/thành phố
|
Đơn vị hành
chính |
2018 |
2019 |
Sơ bộ 2020 |
|
Ha |
|||
|
Tổng
số |
302.388 |
303.092 |
298.318 |
|
TP. Cà Mau |
13.406 |
12.636 |
12.136 |
|
Huyện Thới Bình |
50.173 |
50.348 |
49.848 |
|
Huyện U Minh |
24.774 |
26.379 |
25.879 |
|
Huyện Trần Văn Thời |
30.822 |
29.324 |
28.534 |
|
Huyện Cái Nước |
30.262 |
31.180 |
30.680 |
|
Huyện Phú Tân |
37.826 |
37.832 |
37.348 |
|
Huyện Đầm Dơi |
66.436 |
66.172 |
65.672 |
|
Huyện Năm Căn |
24.588 |
26.168 |
25.668 |
|
Huyện Ngọc Hiển |
24.101 |
23.053 |
22.553 |
(Theo nguồn Niên giám Thống kê tỉnh Cà Mau,
2020).
Sò huyết Cà Mau Anadara granosa phân bố
chủ yếu ở các khu vực phía Tây bán đảo Cà Mau và chúng thường phân bố trong đáy
bùn gần bờ và di chuyển xuống sâu hơn vùng đáy cát bùn và cát trong quá trình
tăng trưởng lớn lên. Nguồn giống sò huyết tập trung các bãi bồi hai bên các cửa
sông với mùa vụ xuất hiện từ khoảng tháng 1 đến tháng 3 âm lịch hàng năm. Từ
năm 2007, nhiều hộ dân địa phương có đất vuông tôm ở Ðông Thới manh nha học
cách bắt sò huyết con về nuôi ở ao chung với tôm, dần dần lan rộng qua một số
vùng lân cận. Đến năm 2010, mô hình nuôi sò huyết bắt đầu xuất hiện rải rác ở
một số xã: Đông Thới (huyện Cái Nước); Tân Đức, Tân Thuận, Thanh Tùng, Nguyễn
Huân (huyện Đầm Dơi); Hòa Tân (TP. Cà Mau) và các xã thuộc huyện Năm Căn, Ngọc Hiển.
Tuy nhiên, các hộ dân chủ yếu nuôi thử nghiệm, nhỏ lẻ, khi ấy diện tích nuôi sò
huyết toàn tỉnh dao động 1.500 - 2.000ha.
Từ năm 2012, với sự phát triển mô hình địa
phương và được sự hỗ trợ của cơ quan chức năng địa phương để giúp người dân
nuôi sò huyết đạt hiệu quả cao; thành lập tổ hợp tác nuôi sò huyết thương phẩm
như tổ hợp tác Như Ý, Nhà Thính B. Từ đó, người dân trong vùng Cà Mau nói chung
và huyện Trần Văn Thời nói riêng bắt đầu mô hình nuôi sò huyết trong điều kiện
nguồn nước và môi trường tự nhiên của vùng hiệu quả. Đến nay, sò huyết của tỉnh
Cà Mau đã được nhân rộng giống và nuôi dưới nhiều mô hình khác nhau: nuôi tự
nhiên trên bãi bồi, nuôi quảng canh cùng với tôm, cua đã mang lại lợi nhuận
kinh tế cao.
* Diện tích nuôi
sò huyết của tỉnh Cà Mau hiện nay là 7.145 ha. (theo báo cáo tuần 41 ngày
12/10/2021 của Chi cục thuỷ sản)
+ Diện tích nuôi
ven sông, biển: 53,40 ha (Phân bố ở Đầm Dơi 2 ha, Phú Tân 5 ha, Cái Nước 16,4
ha, Năm Căn 30 ha .
+ Diện tích nuôi
kết hợp: 7.092 ha được phân bố tại các huyện: Đầm Dơi 3.000 ha, Phú Tân 50 ha,
Cái Nước 2.100 ha, Năm Căn 1.442 ha và Ngọc Hiển là 500 ha.
-
Mật
độ nuôi ven sông trung bình: 60 con/ m2
- Mật độ nuôi kết hợp trung bình: 30 con/ m2
- Sản lượng Sò
ước tính hàng năm khoảng: 20.000 – 30.000 tấn/ năm
- Con giống trung
bình 1.000 con/kg nuôi 6-8 tháng đạt sò thương phẩm khoảng 100 con/kg.
Với tiềm năng phát triển mô hình nuôi sò huyết
cùng với ao tôm, cua đã được phát triển mạnh tại các huyện của tỉnh Cà Mau trên
diện tích mặt nước lớn. Cụ thể, năm 2020, diện tích mặt nước nuôi thủy sản lớn
nhất tại huyện Đầm Dơi là 65.672 ha;
huyện Thới Bình là 49.848 ha; huyện Phú Tân là 37.348 ha; huyện Cái Nước là
30.680 ha; huyện Năm Căn là 25.668 ha; huyện Ngọc Hiển là 22.553 ha; huyện U
Minh là 25.879 ha.
Tính đến nay, các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Phú
Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển là những địa phương có diện tích và số hộ nuôi sò huyết
nhiều trong tỉnh hiện nay. Tại xã Đông Thới (huyện Cái Nước) được xem là nơi
hình thành và phát triển mô hình nuôi sò huyết khá sớm và quy mô lớn so với các
địa phương trong tỉnh. Hiện nay, trên địa bàn xã có 5 tổ hợp tác và 1 hợp tác
xã nuôi sò huyết, với trên 100 hộ dân tham gia.
Về hiệu quả kinh tế từ việc nuôi sò huyết,
theo bà con nông dân vùng Đất Mũi Cà Mau, nếu gặp thời tiết thuận lợi, ít hao
hụt, bình quân năng suất đạt trên 1 tấn/ha/năm, với giá bán cao như hiện nay:
130 - 150 ngàn đồng/kg loại 80 - 100 con; trừ chi phí thu lãi khoảng 200 - 220
triệu đồng.
2. Vai trò đóng góp của sản phẩm sò huyết của tỉnh Cà
Mau
- “Xóa đói giảm nghèo” là
một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Khi nhắc đến
sò huyết của tỉnh Cà Mau, người dân vùng đất Mũi tự hào với nghề nuôi sò huyết
vì được lãi cao, “một vốn bốn lời”, “vốn ít lãi nhiều”. Người dân của vùng có
đất, có sò thì từ hộ nghèo lên hộ thu nhập trung bình, từ hộ trung bình lên hộ
giàu. nuôi sò huyết xen canh trong vuông tôm mang lại hiệu quả cao, đầu ra của
sò huyết lại ổn định hơn so với tôm, cua nên mang lại lợi nhuận cho người nuôi.
Mô hình trên mở thêm một hướng đi mới cho người dân trên địa bàn. Qua đó, từng
bước phá bỏ thế độc canh trong nuôi tôm đang rất bấp bênh như hiện nay.
- Vùng Cà Mau nổi tiếng
là vùng đất rất khó khăn cho việc canh tác, trồng trọt vì luôn chịu ảnh hưởng
của mặn, phèn. Từ khi sò huyết được phổ biến, phát triển phổ biến mô hình nuôi
cho bà con vùng đất Mũi Cà Mau. Nhờ đó, nghề nuôi sò huyết đã góp phần giảm tỉ
lệ hộ nghèo, cận nghèo và giúp người dân nâng cao thu nhập, trở thành những hộ
thu nhập khá đến cao và có nhiều hộ trở thành “Tỉ phú sò huyết”. Theo số liệu
thống kê, tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm đánh kể, năm 2018 là 4.04%, đến năm 2020
chỉ còn 1,59% (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, 2020).
- Sò huyết của tỉnh Cà
Mau được khai thác hàng năm với sản lượng ước tính khoảng 20 - 30 nghìn tấn/năm
đã đóng vào sự đa dạng sản lượng thủy sản, mang lại nguồn doanh thu lớn cho địa
phương. Đồng thời, khi tăng cường nuôi sò huyết sẽ giảm áp lực khai thác tự
nhiên, bảo vệ nguồn lợi thủy sản của địa phương nói chung và nguồn sò huyết nói
riêng được duy trì, tái tạo bền vững.
- Với giá trị kinh tế của
sò huyết mang lại, người dân luôn tìm tòi học hỏi và phát triển nhiều mô hình
nuôi sò huyết như mô hình nuôi sò kết hợp với tôm, cua đang phổ biến ở Cà Mau
và mang lại hiệu quả cao cho người thu nhập, tiết kiệm chi phí, từng bước hướng
đến sản phẩm sinh thái, ổn định và bềnh vững.
- Khi sản phẩm sò huyết
của tỉnh Cà Mau được phát triển trên thị trường sẽ được kiểm soát về chất
lượng, nguồn gốc ổn định và với sự tham gia của nhiều tổ chức, cơ quan quản lý
địa phương, tạo nên chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ với sự tham gia của cộng
đồng và người dân trong việc nhắm tới các nhu cầu.
- Ngoài ra, nuôi sò huyết
giúp tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn của tỉnh Cà Mau,
chuyển dịch từ trồng trọt sang nuôi thủy sản, đặc biệt nuôi sò huyết, tôm, cua
có giá trị kinh tế cao, giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho người dân và
tăng cường liên kết sản xuất. Đồng thời, quy hoạch tổ chức công tác tốt đối với
địa phương về vùng nuôi, hệ thống thủy lợi và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào
nuôi sò huyết nói riêng và thủy sản nói chung của tỉnh Cà Mau.
3. Chủ trương, chính sách
Với những chủ trương, chính sách của tỉnh
khuyến khích người nông dân thực hiện các mô hình mở rộng kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, nâng cao quy mô sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề. Với đề án
“Hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân giai đoạn 2014 – 2020”. Ban Thường vụ Hội
Nông dân tỉnh Cà Mau đã xây dựng, ban hành và thực hiện đề án hoạt động Quỹ hỗ
trợ nông dân đạt hiệu quả cao nhất. Trong đó, các dự án đạt hiệu quả cao được
nhân rộng như: Nuôi sò huyết thương phẩm, nuôi cua thương phẩm, nuôi tôm 2 giai
đoạn, nuôi cá chình, cá bống tượng, nuôi cá đồng, trồng màu, trồng dưa lưới...
nhiều hộ thu nhập đạt 1 tỷ đồng/năm.
Năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đã cho
chủ trương nuôi sò huyết thực nghiệm tại Phân khu chức năng trên biển của Vườn
quốc gia Mũi Cà Mau. Năm 2016 và 2017, dự án mở rộng nuôi sò huyết tại Vườn
quốc gia Mũi Cà Mau đã thực hiện với quy mô mở rộng đến 400 ha. Đến 2021, Vườn
quốc gia Mũi Cà Mau đề xuất phương án điều chỉnh nuôi sò huyết thực nghiệm tại
phân khu chức năng phần trên biển với diện tích bố trí ương nuôi 350 ha. Khi mô
hình triển khai thành công sẽ giúp nâng cao kỹ thuật, giải quyết việc làm lao
động, nâng cao thu nhập và tiếp tục mở rộng quy mô diện tích trong tỉnh.
Năm 2018, Sở Khoa học và
Công nghệ tỉnh Cà Mau đã có Quyết định công nhận kết quả thực hiện dự án: “Nhân
rộng mô hình nuôi sò huyết (A. granosa) kết hợp trong vuông tôm”.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại dự thảo Nghị định về
chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thay thế
Nghị định số 57/2018/NĐ-CP.
Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đã ban hành Quyết
định số 17/2021/QĐ-UBND - Quy định về sên, vét đất, bùn để cải tạo ao, đầm nuôi
thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Ban hành kèm theo Quyết định này là Quy định
về sên, vét đất, bùn để cải tạo ao, đầm nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau
4. Đánh giá sự tồn tại, sở hữu trí tuệ hiện nay trong
sản xuất, chế biến, thị trường sản phẩm sò huyết
a. Về lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT)
Khi thực hiện chính sách đổi mới (năm
1986), từ vị trí nhập khẩu, Việt Nam đã trở thành nước
xuất khẩu nông lâm thủy hải sản hàng đầu trên thế giới như (bưởi, cà phê, hạt tiêu, điều, cá tra, tôm sú, mật ong...) và bước đầu hướng tới thị trường rau, quả, hoa.... Thị
trường quốc tế và nội địa là động lực của sự tăng trưởng này. Thu nhập và an
sinh của
người sản xuất đã được cải thiện rõ
rệt. Tuy nhiên, tính không ổn định của giá hàng nông lâm thủy sản trong và ngoài
nước đã bộc lộ rõ những bất cập của nền nông nghiệp mới tham gia vào cơ chế thị trường.
Thực tiễn cho thấy Việt Nam còn nhiều sản phẩm cần được
xây dựng CDĐL,
đặc biệt là các sản phẩm chế biến sâu từ thủy hải sản, rất cần có những CDĐL riêng cho từng địa phương, từng vùng để có khả năng cạnh
tranh với các sản phẩm nhập ngoại và theo kịp xu thế hội nhập Tổ
chức Thương mại Thế Giới (WTO),
tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN, các Hiệp định Thương
mại tự do (FTA) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP-CPTPP), ... Ở mỗi địa phương cần phải cân nhắc để lựa chọn hình
thức xác lập quyền cho sản phẩm mang tên địa danh của địa phương mình. Nếu sản
phẩm đã có danh tiếng trên thị trường và có các tính chất, chất lượng đặc thù
được quyết định bởi điều kiện địa lý, địa phương và con người thì có thể bảo hộ địa danh theo hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa
lý. Đối với các sản phẩm không đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ theo hình
thức chỉ dẫn địa lý, có thể lựa chọn hình thức bảo hộ NHCN hoặc NHTT.
Nhu cầu của chính quyền địa phương, người sản xuất, kinh
doanh các sản phẩm nông lâm, thủy hải sản đặc sản mang CDĐL đang gia tăng. Nhằm phát huy các giá trị kinh tế, văn
hóa-xã hội của các sản phẩm nông lâm, thủy hải sản, Chính phủ cùng các cơ quan Nhà nước đang hỗ trợ
việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm đặc sản địa phương như
Chương trình 68 của Bộ Khoa học và công nghệ (kinh phí từ ngân
sách TW), chương trình hỗ trợ Sở hữu trí tuệ của
từng địa phương (kinh phí được sử dụng từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học
tỉnh).
Việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trở thành công cụ thương mại
quan trọng để các nước, trong đó có Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thâm
nhập vào thị trường trong nước và quốc tế. Với lý do đó, việc đăng ký bảo hộ
chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông lâm, thủy hải sản là một hoạt động cần thiết và quan trọng để phát
triển sản xuất, đưa Việt Nam tham gia sâu rộng vào thị trường trong nước, khu vực và thế giới.
Đối
với sản phẩm sò huyết của tỉnh Cà Mau hiện nay, nuôi sò huyết đang phát triển
mở rộng một cách tự phát; chưa có quản lý chuỗi liên kết thị trường tiêu thụ
sản phẩm một cách khoa học nên rủi ro về chất lượng, về giá thành sản phẩm. Đối
với sản phẩm danh tiếng ở Cà Mau trong thời gian qua, tỉnh đã xây dựng bảo hộ
được các nhãn hiệu tập thể gồm: mật ong U Minh Hạ, cá khô bổi U Minh, tôm khô
Rạch Gốc, cua Năm Căn, mắm lóc Thới Bình, cá chình - cá bống tượng Tân Thành,
bồn bồn Cái Nước, cá khoai Cái Đôi Vàm, chuối khô Trần Hợi, bánh phồng tôm Mũi
Cà Mau và 3 nhãn hiệu được chứng nhận đó là gạo một bụi lùn, gạo tép hành, gạo
tài nguyên đục; tôm sú Cà Mau đang xây dựng bảo hộ CDĐL. Để tạo động lực và
phát triển mạnh mẽ sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, Sở Khoa học và Công
nghệ tỉnh Cà Mau và được sự hỗ trợ từ Cục Sở hữu Trí tuệ, sản phẩm của tỉnh
được bảo hộ tăng về mặt số lượng, chất lượng và nâng giá trị sản phẩm. Vì vậy,
Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đề xuất tiếp tục đăng ký bảo hộ sản phẩm sò huyết
có nguồn gốc, danh tiếng, đã được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng
đặc trưng sản phẩm dưới dạng Chỉ dẫn địa lý.
b. Về quản lý sản xuất, chế biến và tiêu thụ trên
thị trường
Nguồn
lợi động vật thân mềm mang lại giá trị kinh tế quan trọng đối với ngành kinh tế
thủy sản của Việt Nam nói chung và Cà Mau nói riêng. Đặc biệt, sò huyết (A. granosa) là một trong những đối
tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam nói chung và cũng là một
trong những thế mạnh của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng. Theo Tổng
cục Thủy sản Việt Nam, nhu cầu nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thị trường thế giới
rất cao, ngày càng có thêm nhiều người tiêu dùng ưa chuộng sản phẩm này. Chỉ
tiêu phát triển sản xuất, tiêu thụ nhuyễn thể đến năm 2020 phấn đấu đạt: Tổng diện tích nuôi đạt 48.370 ha, tổng sản
lượng 400.000 tấn, năng suất nuôi nhuyễn thể trung bình đạt 8,27 tấn/ha, tốc độ
tăng trưởng bình quân đạt 6,1 %/năm. Giá trị xuất khẩu nhuyễn thể đạt khoảng
150 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,8 %/năm. Tỉnh
Cà Mau là một trong những tỉnh có diện tích nuôi thủy sản lớn nhất cả nước,
khoảng 303.092 ha, chiếm gần 30% cả nước và chiếm khoảng 40% vùng ĐBSCL (Niên
giám thống kê tỉnh Cà Mau, 2020).
Một
mô hình nuôi sò huyết kết hợp trong các mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến
tại xã Lâm Hải, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau cho thấy với diện tích vuông tôm 2
ha, thả 100.000 con tôm sú giống và 600 kg sò huyết giống; kết quả cho thấy lợi
nhuận từ sò mang lại tương đương với lợi nhuận từ tôm sú, đạt khoảng 70 triệu đồng/vụ/năm.
Cũng theo kinh nghiệm nuôi sò huyết kết hợp trong vuông nuôi tôm của một số hộ
dân cho biết thu nhập từ nuôi sò huyết dao động khoảng 40-100 triệu/vụ/năm (Báo
Cà Mau, 2017).
Trên
thị trường, giá sò huyết cũng đa dạng và tùy thuộc vào thời điểm, năm 2020, cụ
thể: sò huyết trên địa bàn huyện Năm Căn loại 100 con/kg bán cho thương lái có
giá dao động 110-130 ngàn đồng/kg. Đối với cơ sở kinh doanh (vựa), sò huyết
loại 80 con/kg giá bán lẻ là 200.000 đồng/kg, giá bán sỉ là 155.000 đồng/kg;
sò huyết loại 60 con/kg giá bán lẻ: 280.000 đồng/kg, giá sỉ là 235.000 đồng/kg;
sò huyết loại 40 con/kg có giá bán lẻ là 350.000 đồng/kg và giá sỉ là 295.000
đồng/kg; sò huyết loại 20 con/kg giá bán lẻ là 450.000 đồng/kg và giá sỉ là 395.000
đồng/kg. (Theo nguồn
https://vuadacsanmiennam.com/vua-so-huyet-ca-mau-gia-re-ban-so-huyet-ca-mau-chinh-goc-chat-luong-cao-bid10.html)
- Sản xuất sò huyết ở Cà
Mau đang gặp khá nhiều khó khăn và thách thức:
1) Sản xuất phụ thuộc
nhiều vào thời tiết, khí hậu; đất đai bị ô nhiễm do nhiễm các độc tố của phèn,
mặn, vi khuẩn gây bệnh hại; tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp
chưa có giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả;
2) Tổ chức sản xuất còn
mang tính nhỏ lẻ và manh mún, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn
nhiều hạn chế. Liên kết sản xuất chậm phát triển và kém bền vững, chủ yếu do
thiếu cơ chế phù hợp, chưa hợp lý trong phân chia lợi ích và nhìn chung nông hộ
chưa quan tâm, doanh nghiệp chưa chủ động xây dựng và thúc đẩy các hình thức
liên kết phát triển. Kinh tế hợp tác chậm phát triển, hộ gia đình đang là đơn
vị sản xuất chính, sản phẩm làm ra kém đồng nhất về chất lượng, sản lượng thấp,
khả năng cạnh tranh yếu;
3) Người dân chưa quen và
thích nghi với loại hình tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất
theo quy mô lớn; tập quán sản xuất và sinh sống của người dân là định cư tại
chỗ, quy mô nông hộ, còn rất nhiều hạn chế trong các hoạt động hợp tác sản
xuất.
- Hoạt động chế biến và
tiêu thụ gặp một số khó khăn: 1) Nguyên liệu cho chế biến thủy sản chưa đáp ứng
yêu cầu về số lượng và chất lượng; 2) Thị trường xuất khẩu còn đang gặp khó
khăn, rào cản thương mại, kỹ thuật được các nước nhập khẩu đặt ra, quy mô sản
phẩm và chất lượng hàng hóa đạt tiêu chuẩn gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
ngành thủy sản của tỉnh Cà Mau nói chung và sò huyết nói riêng. Vì vậy, việc
nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả theo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn
sinh học còn nhiều hạn chế và cần tập huấn kỹ thuật, phổ biến kiến thức, nâng
cao chất lượng nuôi sò huyết đạt hiệu quả cao.
5. Tính cấp thiết đề xuất xây dựng chỉ dẫn địa lý sò
huyết của tỉnh Cà Mau
Việt Nam là quốc gia có bờ biển trải dài hơn
3.260 km cùng với các hệ thống sông ngòi trong nội địa rộng lớn, đã tạo nên
nguồn lợi thủy sản vô cùng đa dạng và phong phú. Đây chính là các yếu tố tạo
nên tầm quan trọng của việc phát triển ngành thuỷ sản. Đường bờ biển của tỉnh
Cà Mau trải dài 254 km, trong đó bời biển Đông dài 107 km và bờ biển Tây dài
147 km. Đây là vùng đất thấp ngập nước, rừng tràm bạt ngàn bên cạnh sú, vẹt,
đước, có nhiều lác mọc tự nhiên và cây hoang dã. Cà Mau có 5 nhóm đất chính
gồm: đất phèn, đất than bùn, đất bãi bồi, đất mặn và đất kênh rạch. Vùng sinh
thái đặc thù là rừng rừng ngập mặn (chiếm 77% diện tích rừng của vùng đồng bằng
sông Cửu Long) được phân bố dọc theo đường bờ biển, bên trong là hệ sinh thái
rừng tràm nằm sâu vùng nội địa ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình,
Năm Căn với diện tích trên 35.000 ha. Vì vậy, nước ở nơi đây có màu đen do thảm
rừng tràm U Minh rụng xuống làm nước thay đổi màu.
Chính vì điều kiện tự nhiên khó khăn để trồng
trọt, bản chất của người dân nơi đây lại cần cù, vượt khó và luôn học hỏi, tận
dụng nguồn lực tự nhiên để khai thác và cải thiện cuộc sống. Do đó, với điều
thiên nhiên và địa hình thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản, vùng nuôi và
đánh bắt thủy hải sản của tỉnh Cà Mau không ngừng tăng lên. Với con sò huyết,
người dân địa phương đã phát hiện ra loại thủy sản này có giá trị cao và chất
lượng ngon, ngọt, tươi tại bãi Ông Trang thuộc quận An Xuyên (Cà Mau xưa) từ
những thập niên 50. Đến nay, người dân ở các địa phương trong tỉnh ngày càng mở
rộng diện tích nuôi bằng cách mở rộng nhiều loại hình nuôi: nuôi trên bãi bồi,
nuôi xen canh với tôm và cua nhưng chủ yếu là tự phát. Để đảm bảo danh tiếng,
chất lượng sản phẩm và ổn định giá cả sản phẩm, các vấn đề đặt ra cho vùng sản
phẩm nuôi sò huyết:
+ Danh tiếng sản phẩm sò huyết của tỉnh Cà Mau
hiện nay như thế nào?
+ Yếu tố đặc thù chất lượng sò huyết của tỉnh
Cà Mau do các điều kiện nào quyết định?
+ Chất lượng sản phẩm sò huyết của Cà Mau như
thế nào?
+ Cơ quan và chính quyền địa phương thực hiện
quản lý vùng nuôi sò huyết bằng cách nào?
+ Khả năng liên kết và quản lý chuỗi tiêu thụ
sản phẩm sò huyết trên thị trường ra sao?
Chính vì vậy, ngoài việc bảo vệ nguồn lợi thủy
hải sản, bảo vệ môi trường, nâng cao thu nhập và giảm nghèo cho người dân vùng
đất Mũi Cà Mau còn phải tăng cường quản lý, ổn định thị trường và tạo niềm tin
với người tiêu dùng. Với những tính chất đặc thù và danh tiếng của sò huyết của
Cà Mau, việc đăng ký chỉ dẫn địa lý “Cà Mau” cho sản phẩm sò huyết của tỉnh Cà
Mau là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách. Khi nhiệm vụ thành công sẽ góp
phần nâng cao nhận thức của người dân nuôi, khai thác, và bảo vệ môi trường
trong vùng đất mũi Cà Mau; khẳng định danh tiếng, tăng cường công tác quản lý,
bảo vệ giá trị thương hiệu không thể lẫn với vùng miền nào khác của sò huyết
của tỉnh Cà Mau đối với người tiêu dùng và phát triển giá trị thương hiệu sản
phẩm.
Về sản phẩm dự kiến đăng ký Chỉ dẫn địa lý
+ Tên đăng ký chỉ dẫn địa lý: Cà Mau;
+ Sản phẩm dự kiến đăng ký chỉ dẫn địa lý: Sò
huyết (con);
+ Sản phẩm con sò huyết: Đây là dạng sản phẩm
sò huyết được lưu hành phổ biến trên thị trường dạng tươi, nguyên con hoặc rửa
sạch để bảo quản và vận chuyển đến nơi tiêu thụ.
Nguồn: Nhiệm vụ: Đăng ký bảo hộ và quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm sò huyết của tỉnh Cà Mau”



